Có ai còn nhớ cái vị bánh trong veo, hanh hanh của nước tro, ngọt thanh của nhân đậu xanh trong những trưa hè oi ả ngày Tết Đoan Ngọ không? Thiệt là, ở cái xứ miệt vườn này, có những thức quà quê mà đi đâu người ta cũng không sao quên được. Bánh ú nước tro là một món như vậy, một thức quà của ký ức, gói cả trời thương nhớ vào trong chiếc lá tre xanh mướt.
Cái bánh ú nước tro nó không cầu kỳ, không sặc sỡ, chỉ là một hình chóp ba góc khiêm nhường, nằm gọn trong lòng bàn tay. Vậy mà, để “mần” ra được nó là cả một sự công phu, tỉ mẩn. Nhìn chiếc bánh trong ngần, óng ả màu hổ phách, cắn vào một miếng thấy mềm dẻo, mát rượi, vị ngọt thanh của nhân đậu xanh tan ra nơi đầu lưỡi… mới thấy hết cái tình của người làm bánh.
Hồi xưa, tôi còn nhớ, mỗi lần tới dịp Tết Đoan Ngọ là ngoại lại lụi cụi trong bếp. Ngoại nói, cái hồn của bánh nằm ở phần nước tro. Phải là tro của rơm nếp, thứ rơm vàng óng sau mùa gặt, đốt lên rồi hòa với nước, chắt lấy phần nước trong vắt. Ngâm nếp trong thứ nước đó cả một ngày trời, hạt nếp mới no tròn, trong veo. Người có kinh nghiệm chỉ cần bấm nhẹ đầu ngón tay, thấy hạt nếp vỡ ra là biết đã “tới”.
Ngày nay, người ta bán sẵn nước tro ngoài chợ, tiện hơn nhiều, nhưng cái mùi thơm nồng của khói rơm, cái vị đậm đà của tro nếp thì khó mà tìm lại được.
Nhớ làm sao cái vị bánh ú nước tro trong veo, hanh hanh của nước tro, ngọt thanh của nhân đậu xanh… Một thức quà giản dị gói trọn ký ức ngọt lành ngày Tết Đoan Ngọ.
Nhân bánh thì là đậu xanh đãi vỏ, nấu cho thiệt mềm rồi sên với đường. Cái công đoạn sên đậu cũng đòi hỏi sự kiên nhẫn, phải canh lửa liu riu, khuấy đều tay để đậu mịn màng, dẻo quánh mà không bị cháy. Xong xuôi, ngoại vo thành từng viên tròn đều tăm tắp, chuẩn bị cho công đoạn gói bánh.
Gói cả cái tình vào trong lá
Lá tre dùng để gói bánh cũng phải lựa lá to bản, không quá già cũng không quá non, luộc sơ qua nước sôi cho mềm mà vẫn giữ được màu xanh. Từng chiếc lá được xếp thành hình cái phễu, xúc một lớp nếp, đặt viên nhân đậu vào giữa, rồi lại phủ một lớp nếp lên trên. Bàn tay người gói phải khéo léo, siết vừa đủ chặt để bánh định hình tam giác cân xứng mà không làm nếp bị nghẹt, bánh chín sẽ không dẻo.
Nếp: Phải là nếp mới, hạt tròn mẩy, ngâm đủ giờ với nước tro để có màu hổ phách đẹp mắt.
Nhân đậu:
Đậu xanh nấu chín, sên với đường cho đến khi dẻo mịn, ngọt thanh.
Lá gói: Lá tre được chần qua nước sôi để mềm và dễ gói hơn.
Từ hình dáng chóp ba góc khiêm nhường đến màu hổ phách óng ả, chiếc bánh ú nước tro tuy không cầu kỳ nhưng chứa đựng cả sự công phu, tỉ mẩn và tấm lòng của người làm bánh.
Người ta hay nói, nhìn cái bánh ú là biết người gói có khéo tay hay không. Bánh càng nhỏ, hình dáng càng xinh xắn, chứng tỏ người gói càng tinh tế. Bánh gói xong, được buộc thành từng chùm bằng dây lạt chuối, treo lủng lẳng trên giàn bếp, nhìn thiệt là vui mắt. Bánh luộc chín, vớt ra thả vào nước lạnh cho nguội rồi treo lên cho ráo nước. Khi ăn, chỉ cần bóc lớp vỏ lá, chiếc bánh óng ả, trơn láng hiện ra, không hề dính một chút nào. Cái vị ngọt thanh, mát lành của bánh ú nước tro trong những ngày nóng nực quả là một món quà tuyệt vời của miền sông nước, ăn hoài không thấy ngán, chỉ thấy thương, thấy nhớ da diết cái hương vị quê nhà.
Mỗi độ Tết Đoan Ngọ về, lòng lại nôn nao nhớ cái vị bánh ú nước tro của ngoại, nhớ da diết. Cái bánh nhỏ xíu mà gói ghém biết bao tình thương, là ký ức một thời thơ dại. Cắn miếng bánh trong veo, dẻo mềm, vị ngọt thanh của đậu xanh tan ra, nghe mát rượi cả lòng. Mùi lá tre, mùi nước tro dìu dịu quyện vào nhau, thành cái mùi của quê hương, của những ngày xưa cũ. Dù đi đâu về đâu, hương vị mộc mạc mà đậm tình ấy vẫn theo chân, nhắc mình nhớ về một góc trời bình yên.